Tìm hiểu nhạc dân ca – Tuyển tập những bài nhạc dân ca trữ tình hay nhất

Nhạc dân ca là gì, tìm hiểu nhạc dân ca
Sự ra đời của dân ca gắn liền với đông đảo quần chúng, người dân lao động, với mục đích chính là tìm hiểu tâm tình cũng như thư giãn qua những giờ làm việc mệt mỏi ở mọi nơi, mọi lúc nên chú trọng nhiều về thanh nhạc hơn khí nhạc và ngôn ngữ âm nhạc gần gũi với thiên nhiên. Không gian xuất hiện và tồn tại của dân ca gắn liền với đời sống thường nhật của người dân lao động như: cày cấy, gặt hái, tung chài kéo lưới, hái củi, đốt than, quay tơ dệt vải, trục lúa, đan lát. Sự đa dạng và phong phú của các làn điệu dân ca trải dài trên cả ba miền, tiêu biểu có thể kể đến như hạt ghẹo, hát xoan- Phú Thọ, dân ca quan họ Bắc Ninh, hát trống quân- vùng Thanh Hóa, hát ví dặm Nghệ Tĩnh, hò mái đẩy- hò mái nhì Miền Trung, hò chèo ghe Hậu Giang . . . Qua những làn điệu dân ca đặc trưng của từng vùng miền, chỉ cần qua những đầu đề của bài ca, người nghe cũng có thể hình dung được không khí, tính chất, môi trường và tác dụng thực tế của những bài dân ca đó với hoạt động thực tiễn của con người.
1.Sự biến đổi và sức sống của dân ca trong đời sống âm nhạc đương đại
Với hoàn cảnh ra đời và mục đích của dân ca trong đời sống thường nhật, nhiều nhà nghiên cứu có thể nhận thấy được điểm mấu chốt và thách thức của sự tồn tại của loại hình dân ca trong đời sống âm nhạc đương đại. Đó là không gian diễn xướng và mục đích ra đời của dân ca đã không còn nữa. Đô thi hóa và công nghiệp hóa đã làm thay đổi nhanh chóng diện mạo không gian sống không chỉ các đô thị lớn mà ngay cả những làng quê vốn yên bình cũng có nhiều xáo trộn. Sự giao lưu văn hóa sâu rộng đã đem đến đời sống âm nhạc những màu sắc vô cùng đa dạng và phong phú, với nhiều thể loại và phong cách khác nhau. Những giai điệu nhẹ nhàng, sâu lắng của dân ca không thể kìm được nhịp sống hối hả, bộn bề với nhiều lo lắng, toan tính của người dân. Có chăng, những làn điệu dân ca gốc chỉ còn xuất hiện khiêm tốn trong những Trung tâm bảo tồn và phát huy di sản dân ca, câu lạc bộ dân ca và đâu đó ở trong những dịp lễ hội ở địa phương. Sự xuất hiện nhiều hơn trong đời sống âm nhạc là những biến thể của dân ca, đó là những làn điệu dân ca gốc được soạn lời mới có nội dung hiện thực, phản ánh cuộc sống sôi động phong phú và những ca khúc mới mang hơi thở và nhịp sống đương đại được lấy chất liệu từ dân ca.
Vấn đề đặt ra là:
  • Sự biến đổi và sức sống của dân ca như thế nào trong đời sống âm nhạc đương đại?
  • Làm thế nào để bảo tồn, phát huy giá trị của dân ca trong bối cảnh hiện nay?
Nói đến ảnh hưởng và dấu ấn của dân ca trong âm nhạc đương đại thì minh chứng cụ thể nhất có thể nói đến chính là chương trình “Giọng hát Việt Nhí 2013”. Dù đây là chỉ là một chương trình âm nhạc giải trí trên truyền hình với rất nhiều bạn trẻ hát các ca khúc quốc tế, trong nước với các thể loại hiện đại, tiết tấu sôi động nhưng khi cô bé Phương Mỹ Chi cất giọng hát với ca khúc “Quê em miền nước lũ”, lấy chất liệu từ dân ca Nam Bộ, đã làm thổn thức hầu hết những khán thính giả theo dõi chương trình, từ những bạn trẻ cùng trang lứa đến cả những người ở tuổi ông, tuổi bà. Hay gần đây, trong chương trình âm nhạc “Nhân tố bí ẩn” ngày 20.4.2014, Bùi Khánh Bình hát ca khúc “Sông quê” đã đem đến cho cả khán giả và ban giám khảo sự thích thú, sâu lắng khi đem đến chương trình một ca khúc thuộc dòng nhạc dân ca.
Tại sao như vậy?
Có lẽ vì trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam thì dân ca luôn ẩn chứa những giá trị lắng đọng, sâu sắc nhất. Về văn hóa, đó là sự tiếp nối qua con đường “di truyền văn hóa” của nhiều thế hệ, nhưng dường như mỗi chúng ta vì nhiều lý do đã lãng quên, chỉ chờ một dịp nào đó để có thể thổi bùng ngọn lửa đam mê này. Tiếp cận góc độ này để thấy đó chính là cơ sở vững chắc cho sức sống và sự phát triển của dân ca. Chỉ có khơi gợi được tình yêu dân ca, thói quen nghe và thưởng thức dân ca còn tiềm ẩn, xem dân ca như món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống âm nhạc thì dân ca mới phát huy được giá trị vốn qua, những giá trị được tích lũy từ văn hóa dân tộc qua hàng ngàn năm. Và có lẽ cũng chỉ có thế mới vượt qua được những khó khăn mà loại hình dân ca nói chung đang phải đối diện với nguy ngơ thu hẹp phạm vi, cả về không gian diễn xướng lẫn đối tượng thụ hưởng.
Trong phạm vi của hội thảo, qua việc phân tích sự tồn tại của dân ca Ví, Dặm Nghệ Tĩnh như để thấy được sức sống của dòng nhạc dân ca trong đời sống âm nhạc hiện nay.
Dân ca Ví, Dặm là thể hát dân ca không có nhạc đệm, do nhân dân ở Nghệ Tĩnh (gồm tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) sáng tạo ra trong quá trình sinh hoạt, lao động sản xuất, mang đậm bản sắc địa phương về ca từ, giọng điệu. Trong đó, Ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng. Khác với Ví, Dặm là thể hát có tiết tấu rõ ràng. Để gìn giữ và phát huy những giá trị độc đáo của dân ca Ví, Dặm, từ năm 2000, Nghệ An đã thành lập Trung tâm Bảo tồn và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ với hạt nhân là Nhà hát Dân ca. Sau hơn 10 năm được quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền và sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân, phong trào hát dân ca với nhiều cuộc liên hoan thi hát dân ca Ví, Dặm xứ Nghệ được tổ chức ở nhiều cấp, từ xã, thị trấn đến huyện, thành phố ở cả hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Cũng chính từ những liên hoan dân ca này đã tạo động lực thúc đẩy nhiều hoạt động ở cơ sở nhằm khôi phục, phát huy những giá trị văn hóa, nghệ thuật của dân ca Ví, Dặm xứ Nghệ. Hiện nay, đã có hoạt động của gần 100 câu lạc bộ trên địa bàn 2 tỉnh, trong phong trào nghệ thuật quần chúng thường ngày. Tuy nhiên, không thể không nói đến thực trạng ngoài những câu lạc bộ dân ca sinh hoạt định kỳ, một vài liên hoan dân ca phong trào tổ chức hàng năm thì dân ca Ví, Dặm đang dần mai một trong đời sống cộng đồng. Các nghệ nhân lưu giữ các làn điệu gốc hầu hết đã qua đời, số còn lại cũng đã già yếu. Âm nhạc và lối sống hiện đại đang tác động mạnh mẽ, làm dân ca xứ Nghệ mất dần công chúng. Các bà mẹ hầu như không còn ru con bằng dân ca, kiến thức về dân ca Ví, Dặm của thế hệ trẻ cũng rất mờ nhạt. Nguyên nhân chính được kể tới cũng không ngoài những khó khăn mà các làn điệu dân ca khác đã và đang phải đối diện, đó là môi trường diễn xướng nguyên bản của dân ca Nghệ Tĩnh không còn và tác động của dân ca Ví, Dặm trong đời sống tinh thần của người dân không như trước nữa.
2.Cách thức quan trọng trong bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca trong bối cảnh hiện nay
Tại sao sự ảnh hưởng của dân ca trong đời sống tinh thần lại như vậy?
Phải chăng, ngoài những nguyên nhân khách quan, chúng ta đã xem nhẹ và có một khoảng đứt gãy trong việc trao truyền văn hóa nói chung hay dân ca nói riêng?
Vấn đề này e rằng không phải chỉ ở Nghệ An, Hà Tĩnh mà phải nói là của nhiều tỉnh thành trên cả nước. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca đang phụ thuộc vào một số nghệ nhân dân gian, một số nhà nghiên cứu và số ít những người yêu thích. Vai trò của cơ quan nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể nói chung cũng chỉ có thể hỗ trợ tốt nhất về mặt cơ chế, chính sách và một phần kinh phí. Theo tôi, điều quan trọng chính là sự tiếp nối giữa các thế hệ, và chỉ thông qua sự chuyển tiếp liền mạch, không ngắt quãng thì mới có được những thế hệ khán giả chung thành với các loại hình văn hóa dân tộc, và những giá trị văn hóa đặc sắc mới có thể trường tồn cùng dân tộc nhưng đây lại là khâu yếu nhất trong hệ thống phát huy, trao truyền những giá trị của dân ca hiện nay. Việc truyền bá dân ca trong cộng đồng hiện nay phần lớn phụ thuộc vào những người có tâm huyết đi trước truyền cho người có quan tâm, yêu thích đi sau theo hình thức truyền khẩu và rõ ràng đây chỉ là một cách làm đơn lẻ, không thể tổ chức có bài bản trên diện rộng để đào tạo những thế hệ yêu thích dân cađược.
Nghệ nhân dân gian Nguyễn Khánh Cẩm (xã Kỳ Bắc, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) tự thân vận động thành lập câu lạc bộ dân ca Kỳ Anh, ngoài ra còn dạy hát dân ca cho học sinh của 32 trường cấp 2 trong toàn huyện (1).
Sự phổ biến, định hướng thẩm mỹ trong âm nhạc với đại bộ phận quần chúng, qua những bài dân ca, không thể tốt hơn khi đưa vào hệ thống đào tạo giáo dục quốc dân. Nhìn vào chương trình đào tạo giáo viên khoa giáo dục tiểu học- Đại học Sư phạm Hà Nội thì kiến thức về dân ca chỉ chiếm 1.7 % so với tổng số tiết dạy âm nhạc, không tương xứng với những giá trị được lưu truyền qua bao thế hệ mà dân ca có được. Còn thực trạng dạy dân ca cho sinh viên ở các trường Cao đẳng Sư phạm Âm nhạc thì cũng chỉ dừng lại rất khiêm tốn. Trong chương trình khung cho các trường Cao đẳng sư phạm trong toàn quốc thì dân ca có 16 bài được xem là tiêu biểu cho các vùng từ Bắc đến Nam, trong đó dân ca Nghệ Tĩnh có xuất hiện 1 bài, là bài Ví giận thương. Có thể nói kiến thức về các vùng dân ca và các thể loại dân ca có trong chương trình còn sơ sài, việc học hát các làn điệu dân cakhông có trong chương trình. Phân tích qua như vậy để thấy hệ quả là những thầy cô giáo dạy nhạc, có nhiệm vụ chính là giúp các học sinh “biết quý trọng những di sản văn hóa âm nhạc Việt Nam” lại gặp rất nhiều khó khăn khi dạy hát dân ca hay tham gia, tổ chức các cuộc thi hát dân ca ngay trên vùng quê mình. Với những kiến thức học được trên nhà trường, bản thân những người được xem có khả năng, hiểu biết về dân ca như các thầy cô giáo bậc phổ thông còn không biết hát dân ca đó thế nào và tổ chức cuộc thi hát dân ca đó ra sao thì chúng ta lấy đâu ra những thế hệ biết yêu, hát và thưởng thức dân ca được. Thực tế này cho thấy chính khâu đào tạo, chuyển giao những tinh hoa của âm nhạc dân tộc đang là mắt xích yếu nhất, cần sớm chấn chỉnh và điều chỉnh kịp thời, khi mà những nghệ nhân dân gian rất muốn lưu truyền những giá trị của dân ca cho đời sau đã không còn nhiều thời gian, sức khỏe.
Xin nhắc lại chỉ có đưa vào hệ thống đào tạo giáo dục quốc dân có bài bản, hệ thống mới đủ cơ sở, điều kiện vững chắc để có thể giải quyết được những khó khăn trong việc truyền bá dân ca trên diện rộng. Chính những thầy cô giáo dạy âm nhạc tương lai cần được trang bị những kiến thức văn hóa, âm nhạc cần thiết để tiếp tục là cầu nối đưa dân ca đến quảng đại bộ phận các em học sinh, tạo nên nhiều thế hệ yêu thích thưởng thức và trình diễn di sản âm nhạc truyền thống của dân tộc. Sự trang bị đồng bộ này rất cần thiết vì dân ca là một thể loại có tiết tấu và nhịp điệu thường phức tạp, với luyến nhiều, ngân, đảo phách khiến người học nhạc khó hát, nếu có hát được thì thường hát không đúng. Về ca từ phần nhiều là những từ cổ, không gần gũi với đời sống hiện đại do đó cũng là lực cản đối với người học. Dân ca cũng có nhiều thể loại, mỗi vùng có một cách hát khác nhau nên dạy về dân ca phải có hiểu biết nhất định về vùng đó để có thể chiếm lĩnh được ca từ, nội dung biểu đạt trong bài ca.
Sự khó khăn trong truyền bá dân ca cũng còn phải đối diện với thị hiếu âm nhạc hiện nay, đó là đông đảo người dân đã quen tiếp cận với những dòng nhạc giải trí, dễ nghe, dễ hát qua sân khấu, truyền thanh, truyền hình. Tuy nhiên, cũng qua sự phổ biến ồ ạt những ca khúc mới như vừa qua mới thấy được những “cái” không phù hợp, gượng ép, cảm xúc giả dối, mà có những ca khúc chỉ “sống vội”, đáp ứng được phần nào thị hiệu tầm thường của một bộ nhỏ công chúng nghe nhạc. Điều này có lẽ đúng khi thị hiếu âm nhạc không được bắt nguồn từ tính dân tộc thì chỉ có thể thoáng qua chứ không thể đọng sâu trong tâm trí của người nghe được.
Tính dân tộc được hiểu là những nét sâu sắc nhất đã được thành nếp in trong tâm hồn, tình cảm, trong lối sống, lối diễn đạt, cách suy nghĩ của nhiều người và trải qua nhiều thế hệ sống với nhau, gắn bó với nhau trong đấu tranh cải tạo thiên nhiên, chống ngoại xâm, xây dựng đất nước để đưa xã hội tiến bộ. Chính vì thế tính dân tộc thuộc về bản chất, gắn liền với sự tồn tại của các loại hình nghệ thuật và tính dân tộc không bao giờ đứng nguyên, nó phát triển theo dân tộc. Mỗi thời kỳ phát triển của dân tộc đặt ra những vấn đề mới cho âm nhạc thì tính dân tộc trong âm nhạc cũng có cách giải quyết mới (2).
Và cũng chính điều đó mới giúp chúng ta nhìn lại tầm quan trọng của việc định hướng thị hiếu âm nhạc của thế hệ trẻ, mà tính dân tộc thể hiện qua dòng nhạc dân ca rất cần được quan tâm đúng mức.Nói về tính dân tộc trong âm nhạc được hiểu là chúng ta góp phần tìm hiểu tâm hồn, cốt cách, bản lĩnh của con người Việt xưa và nay. Vì tính dân tộc không bao giờ đứng yên, nó phát triển theo dân tộc nên luôn có sự đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, là sự kế thừa, phủ định, chọn lọc và tạo nên cái mới, là sự vận động từ thấp lên cao, từ giản đơn đến phức tạp. Nước ta là một nước có nhiều dân tộc và dân ca vùng nào cũng có những nét đặc sắc riêng của mình, cũng có những làn điệu dân ca tiêu biểu. Sự cống hiến rất lớn của các dân tộc anh em vào nền âm nhạc chung là niềm tự hào, hạnh phúc của người sáng tác cũng như người nghe.
Một bất cập khi chúng ta nói nhiều đến giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong khi thực tế vốn tinh hoa âm nhạc dân tộc, cụ thể là dân ca lại có quá ít trong chương trình đào tạo giáo viên, học sinh, những thế hệ tương lai của đất nước. Cũng chính vì những lí do trên nên việc bảo tồn, phát huy giá trị của dân ca trong xã hội đương đại rất cần có một chiến lược và quan tâm đúng mức. Đây sẽ là nhân tố chủ yếu, không những giúp phát huy những giá trị của dân ca mà còn giúp ta tiếp thu những tinh hoa của âm nhạc thế giới mà không bị mất bản sắc./.
Advertisements
Posted in Non classé | Leave a comment

Tuyển tập những bài nhạc dân ca trữ tình quê hương hay nhất.

Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy họ gần như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai. Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi gọi là dị bản. Những bài dân ca được nhiều người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi.

  1. Khái niệm về dân ca

Để có một khái niệm chuẩn về dân ca thật không đơn giản. Người Đức gọi dân ca là volkslied (tạm dịch là: bài ca của nhân dân), người Pháp gọi là chanson populaire (tạm dịch là: bài ca phổ cập trong quần chúng), người Anh gọi dân ca là folk song (tạm dịch là bài ca mang tính dân tộc). Ngay cả trong các tài liệu Việt Nam về dân ca hay công trình Nghiên cứu của Gs. TS Vũ Ngọc Khánh “Tiếp cận kho tàng folklore Việt Nam” cũng không có khái niệm cụ thể hay một định nghĩa công thức về dân ca như các định nghĩa về những phạm trù khác.

Dân ca Việt Nam là một thể loại âm nhạc cổ truyền, qua việc truyền khẩu, truyền ngón các bài dân ca, mỗi người diễn xướng có quyền ứng tác tự do, góp phần sáng tạo của mình vào tác phẩm trong quá trình biểu diễn. Do vậy họ gần như là “đồng tác giả” với những người sáng tác mà người sáng tác ban đầu không rõ là ai. Một bài dân ca thường tồn tại với một bản coi như bản gốc, gọi là lòng bản và nhiều bản được ứng tấu thêm hay sửa đổi gọi là dị bản. Những bài dân ca được nhiều người yêu thích sẽ được truyền bá đi khắp nơi. Hiện nay các nhạc sĩ đã sáng tác thêm những lời ca mới dựa trên các làn điệu đã có tạo nên sự đa dạng và phong phú cho dân ca . Các dịp biểu diễn thường là lễ hội, hát làng nghề ngoài ra thường ngày cũng được hát lên trong lao động để động viên nhau, hay trong tình yêu đôi lứa, trong tình cảm giữa người và người. Tuy nhiên mỗi tỉnh thành, dân ca Việt Nam lại có phát âm, giọng nói và các từ khác nhau nên cũng có thể phân theo tỉnh cho dễ gọi vì nó cũng có tính chung của miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ngày nay, khi khảo sát một bài dân ca được phổ biến ở một vùng nào đó, muốn biết được xuất xứ của chúng, người ta thường dựa vào một vài đặc điểm có trong đó ví dụ như tiếng địa phương, những địa danh. Đây là cách dễ nhận biết nhất để nhận ra xuất xứ của một bài dân ca. Nói chung trong các bài dân ca miền Bắc thường có những từ đệm như: “rằng, thì, chứ…” và các dấu giọng như: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng được dệt bới những nốt nhạc sao cho việc phát âm được rõ nét. Một số phụ âm được phát âm một cách đặc thù như: “r, d, gi” hay “s và x” phát âm giống nhau, không phân biệt nặng nhẹ. Dân ca miền Trung thì thường có chữ “ ni, nớ, răng, rứa…” dấu sắc được đọc thành dấu hỏi (so với giọng người Bắc), dấu hỏi và ngã đều được đọc giống nhau và trầm hơn chữ không dấu. Những bài dân ca miền Nam thì thường có chữ “má (mẹ), bậu (em), đặng (được)…” chữ “ê” đọc thành chữ “ơ”, dấu ngã đọc thành dấu hỏi,… Nhưng nhìn chung thì vẫn là thoát thai từ lòng dân với đậm tính chất mộc mạc giản dị của họ.

Posted in Non classé | Leave a comment

Tìm hiểu nghệ thuật chèo – Dạy hát chèo

Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu cổ truyền Việt Nam. Chèo phát triển mạnh ở phía bắc Việt Nam với trọng tâm là vùng châu thổ sông Hồng cùng hai khu vực lan tỏa là trung du miền núi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Loại hình sân khấu này phát triển cao, giàu tính dân tộc. Chèo mang tính quần chúng và được coi là loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự, trữ tình. Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịchcủa Bắc Kinh và sân khấu Nhật Bản là kịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất của sân khấu truyền thống Việt Nam là chèo.
 
Nghệ thuật sân khấu chèo đã trải qua quá trình lịch sử lâu dài từ thế kỉ 10 tới nay, đã đi sâu vào đời sống xã hội Việt Nam. Chèo phản ánh đầy đủ mọi góc độ của bản sắc dân tộc Việt Nam: lạc quan, nhân ái, yêu cuộc sống yên lành, bình dị, nhưng tràn đầy tự hào dân tộc, kiên cường đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Cũng chính vì nội dung tư tưởng lành mạnh đó mà trong chèo có đầy đủ các thể loại văn học: trữ tình, lãng mạn, anh hùng ca, sử thi, thơ ca giáo huấn,… hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác như tuồngcải lươngquan họ.
Tuyển tập những bài dạy hát chèo của Đài Phát Thanh và truyền hình Thái Bình thực hiện

Dạy hát chèo: Điệu hề sông đào

Posted in Non classé | Leave a comment

Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu

31-7-Anh-1-Dien-vien-tuong-5072-1406781694 (1)
Tìm hiểu nghệ thuật sân khấu là một trong những chương trình văn nghệ của Đài Tiếng Nói Việt Nam hệ văn hóa xã hội. Chương trình có một cái nhìn tổng thể và chi tiết đến các loại hình nghệ thuật sân khấu như: chèo, cải lương, tuồng... qua các thời kỳ lịch sử.
 Sân khấu Tuồng và Chèo không chỉ khác nhau trong trình thức biểu diễn, mà còn ở cách khai thác nội dung, xây dựng nhân vật và các giới hạn đề cập của từng loại hình. Sự khác biệt này là phong phú và hấp dẫn hơn nghệ thuật diễn xướng của người xưa.
Cùng là loại hình sân khấu kịch hát dân tộc nhưng giữa tuồng và chèo lại có giới hạn khác nhau khi đi khai thác các dạng nhân vật. nếu như tuồng cung đình, hay còn gọi là tuồng bác học chủ yếu xây dựng nhân vật là vua, quan trong triều, nội dung đề cao lòng trung quân, ái quốc của kẻ bề tôi, thì chèo lại chỉ đi xây dựng những nhân vật là người nông dân lao động bình thường trong xã hội phong kiến xưa. điều này được thể hiện rõ ràng nhất ở các vở diễn tiêu biểu của sân khấu chèo truyền thống mà chúng ta biết tới ngày nay, nhân vật có chức tước cao nhất trong xã hội mà chèo xây dựng cũng chỉ từ quan tri huyện trở xuống, không có nhân vật nào là quan lại cao hơn nhân vật này, đây chính là sự khác biệt rõ nét nhất giữa tuồng và chèo.
Nhạc dân ca tuyển tập và biên tập lại mời quý vị đón nghe
Posted in Non classé | Leave a comment

Tuyển tập hát ru con hay nhất

hqdefault
Hát ru là loại hình âm nhạc xuất hiện sớm ở Việt Nam. Nếu sinh ra ở vùng quê thì ai cũng từng được trực tiếp nghe tiếng “à ơi…” ngọt ngào, êm dịu của các bà, các mẹ, các chị, các cô (đôi khi là cả các ông và các anh) ru cháu, con. Có thể coi âm thanh tiếng sáo diều vi vu, tiếng đàn bầu thánh thót và tiếng hát ru bổng trầm tha thiết là quốc hồn, quốc túy của người Việt.
Ở nước ta, mỗi miền đều có hát ru và lối hát của mỗi nơi, mỗi người cũng khác nhau. Tuy nhiên, dù ở đâu, hát ru đều có chung mục đích và đạt được hiệu quả là dần đưa đứa bé vào giấc ngủ êm đềm… Những người “Nghệ sĩ chân quê” không hề biết nhạc biết thơ là gì, chỉ bằng tình cảm trìu mến với cháu, con và cách học truyền khẩu giản dị, họ đã vô tình lưu giữ, bảo tồn được một loại hình âm nhạc thuần Việt độc đáo, thấm đậm tính nhân văn, trải hàng ngàn năm lịch sử. Lời hát ru sử dụng những bài ca dao, đồng dao; những câu tục ngữ, thành ngữ theo thể thơ lục bát có vần điệu nên dễ nhớ, dễ hát và rất truyền cảm. Tác dụng của hát ru cũng thật là kỳ diệu.
Kênh nhạc dân ca đăng tải và sưu tầm đầy đủ nhất những làn điệu hát ru từ các vùng miền qua các thời kỳ lịch sử, mời quý vị và các bạn đón nghe.
Posted in Non classé | Leave a comment

Tuyển tập nhạc dân ca- nhạc dân ca trữ tình quê hương, nhạc cải lương hay nhất mọi thời đại

ba-to-nghe-hat-cheo-cheo-thumb43
Chèo là bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, chèo đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu và được yêu thích bậc nhất của hàng triệu người dân Việt nam. Đóng góp vào sự phát triển của nghệ thuật chèo, không thể không kể đến vai trò của các  nghệ sĩ chèo, những người đã trực tiếp truyền tải những vẻ đẹp của chèo tới hàng triệu khán giả.
Posted in Non classé | Leave a comment

Tìm hiểu nhạc dân ca Việt Nam

756-qh1
Dân ca Việt Nam rất là phong phú. Tất cả những bài ca do dân quê sáng tác và không thuộc nhạc triều đình, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo thì được xếp vào loại dân ca. Xứ Việt Nam với gần 80 triệu người Việt và 53 sắc tộc khác nhau thừa hương một truyền thống dân ca đa diện. Ðịnh nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.
Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nọ
Dân ca Việt Nam được trình bày theo trình tự một đời người, nghĩa là bắt đầu bằng các bài hát ru em khi em bé bắt đầu chào đời, đến khi đứa bé lớn lên, trương thành và chết đi, sẽ có những bài hát liên hệ đến từng giai đoạn của một đời người.
Tôi xin bàn về các bài hát ru em và các bài hát nghe trong lúc trẻ em vui chơi, nô đùạ Chúng ta thường nghe lúc còn ấu thơ, được chị, mẹ hay bà ngoại hoặc bà nội ru cho ngủ. Loại hát này được gọi là hát ru (miền Bắc)ru con (miền Trung), hay hát đưa em, ầu ơ ví dầu (miền Nam). Âm giai dùng trong loại hát ru em được thay đổi tùy theo vùng. Ở miền Bắc, hát ru dựa vào thang âm ngũ cung (do-ré-fa-sol-la-do). Miền Trung sử dụng âm giai tứ cung (do-fa-sol-sib-do), và miền Nam thì chọn âm giai ngũ cung (do-mib-fa-la-do). Người mẹ thường bày tỏ nỗi lòng của mình, hay than van số phận hẩm hiu của mình qua bài ầu ơ ví dầụ Lời ca thường lấy trong ca dao và thể thơ là lục bát.
Tìm hiểu thêm mời các bạn truy cập nhạc dân ca Việt Nam
Posted in Non classé | Leave a comment